Thứ Năm, 30 tháng 1, 2014
Thứ Ba, 14 tháng 1, 2014
giá trị của thời gian
Giá
trị của Thời gian
Có một người rất
keo kiệt, lúc nào cũng chắt bóp chẳng dám ăn tiêu gì. Tích cóp cả đời, anh ta để
dành được cả một gia tài lớn.
Không ngờ một
ngày, Thần Chết đột nhiên xuất hiện đòi đưa anh ta đi. Lúc này anh ta mới nhận
ra mình chưa kịp hưởng thụ chút gì từ số tiền kia. Anh ta bèn nài nỉ:
- Tôi chia một
phần ba tài sản của tôi cho Ngài, chỉ cần cho tôi sống thêm một năm thôi.
- Không được. –
Thần Chết lắc đầu.
- Vậy tôi đưa
Ngài một nửa. Ngài cho tôi nửa năm nữa, được không? – Anh ta tiếp tục van xin.
- Không được. –
Thần Chết vẫn không đồng ý.
Anh ta vội nói:
- Vậy… tôi xin
giao hết của cải cho Ngài. Ngài cho tôi một ngày thôi, được không?
- Không được. –
Thần Chết vừa nói, vừa giơ cao chiếc lưỡi hái trên tay.
Người đàn ông
tuyệt vọng cầu xin Thần Chết lần cuối cùng:
- Thế thì Ngài
cho tôi một phút để viết chúc thư vậy.
Lần này, Thần Chết
gật đầu. Anh run rẩy viết một dòng:
- Xin hãy ghi nhớ:
“Bao nhiều tiền bạc cũng không mua nổi một ngày”.
Bạn thấy đấy,
giá trị của thời gian không nằm ở đồng tiền, giá trị của thời gian nằm ở những
năm tháng chúng ta đang sống hoài hoang phí.
Chúng ta đang
hoang phí thời gian mình có, thời gian mà, đang đếm ngược, đang trừ dần từng
ngày ta bước qua.
Trong khi những
sĩ tử thi đại học đang trong những ngày thi vất vả, khi những người lao động
đang làm việc cật lực trong nhà máy, những cỗ xe, những máy cày đang cật lực
cày kéo trên những cánh đồng, thì chúng ta ngồi đây, một số người than thở vì
tình, một số người khóc lóc cho những chuyện vụn vặt….
Bạn có biết, tuổi
thọ trung bình của người Việt là 70 năm. Nhưng trong 70 năm ấy, có người sống
trọn nhưng không để lại thứ gì cho đời. Có người sống 30 năm nhưng lại để lại tất
thảy những điều tốt đẹp.
Nếu giá trị thời
gian, tiền không đo đếm được, thì giá trị của cuộc đời, thời gian không đo đếm
được.
Mục đích của câu
chuyện này là nhấn mạnh cách sử dụng cuộc sống. Dù cả đời bạn làm việc cật lực
để kiếm tiền, nhưng bạn không biết cách sử dụng chúng cho những điều tốt đẹp,
thời gian cũng là vô ích. Bạn sẽ không để lại điều gì đẹp đẽ cho đời. Khối tài
sản hiện có cũng vô giá trị về mặt tinh thần, bạn ra đi mà không có kỉ niệm
vui, không có những năm tháng hạnh phúc bên người thân, bạn bè, không có những
ngày “lăn lộn” cùng chiến hữu… Đó mới chính là giá trị thực mà không thứ gì mua
được.
Bạn sống 20 năm,
nhưng đối tốt với người thân, bạn bè, làm những việc có ích cho đời, còn hơn sống
70 năm mà sống hoài sống phí. Hoặc một mình cô độc giữ khư khư khối tài sản, hoặc
làm những việc ngốc nghếch tổn hại đến bản thân.
Đứng lên cô gái
yêu đơn phương, cô gái thất tình. Tỉnh lại nào cậu học trò nhỏ uống thuốc tự vẫn.
Cậu còn quá nhiều điều để làm hơn là chết một cách vô vị như vậy. Khóc để làm
gì, thở than để làm gì khi ta còn chưa có những kỉ niệm vui?
Thứ giá trị nhất
mà cuộc sống cho ta là thời gian. Khi còn chưa làm được gì có ích cho đời, thì
cũng đừng làm những điều vô vị.
Bởi đồng tiền
không mua được, nên phải sử dụng chúng một cách hợp lý.
Đừng vì một người,
một vài lời nói, mà làm những điều vô tri, đánh mất thứ quý giá của bản thân.
Chính là thời
gian bạn sống.
Hãy nhớ rằng: Tiền
có thể mua được một chiếc đồng hồ nhưng không mua được thời gian.
Lời
nói dối của Cha
Cha mẹ nó lớn tuổi
mới cưới nhau. Hồi đó, gia đình nghèo khó. Mẹ mất sớm, cha tần tảo nuôi 3 anh
em nó nên người. Nhà gần sông, nhưng cha đau yếu, ít khi có được con cá mà ăn,
mà có được bữa cá đã là thịnh soạn lắm với anh em nó rồi. Nó còn nhớ, mỗi lúc
ăn cá, cha thường bảo: “Để tao ăn đầu và xương”
Nó nhanh nhẩu:
“Tại sao hả cha?”
Cha nó nói vẻ mặt
nghiêm nghị, kiểu răn dạy: “Vì cha già rồi, hay đau đầu, nên ăn đầu thì nó sẽ bớt
đau – cái này gọi là ăn óc bổ óc, hiểu không? Xương yếu, ăn xương thì sẽ cứng
cáp hơn. Có vậy mà cũng không hiểu hả?”
Tâm hồn trẻ con,
nó và hai đứa em đinh ninh là cha nói thật. Mỗi lúc đến bữa ăn, nó còn nhanh nhẩu
sẻ ra từng phần. Bỏ đầu và xương qua cho cha nó. Ba anh em tranh nhau phần thịt.
Có những lúc nó
cũng phân vân, những khi như thế, cha nó lại bảo: “Hồi nhỏ, ông bà nội cho tao
ăn thịt suốt, giờ nhìn thịt là cha thấy ớn quá, sau này lớn các con cũng như
cha thôi.”
Thấm thoắt thoi
đưa, anh em nó lớn lên, và cha nó già đi. Sau này, khi nó đủ hiểu biết mới nhận
ra những lời cha nó nói trước đây là nói dối, thì cũng là lúc đời sống của gia
đình nó khấm khá hơn. Anh em nó có thể thay cha đi đò, đi sông, mò cua, thả cá.
Vì thế mà cha nó
cũng thỉnh thoảng ăn thịt, hay ăn thường xuyên nó cũng chẳng nhớ. Vì tuổi trẻ bồng
bột, không dám – không ngẫm nghĩ nhiều về yêu thương, hay vì cha nó cố tìm cách
cho “lời nói dối” được anh em nó chấp nhận hơn, nó cũng chẳng còn nhớ.
Để đến hôm nay,
khi đã thành đạt, vợ đẹp, con ngoan. Cuộc sống hối hả, vô thường vô tận. Nó
cũng chẳng bao giờ đóai hoài đến cái đầu, hay miếng xương con cá. Vì những thứ
đó đã được vợ nó bỏ đi, chỉ mang phần thịt lên mâm cơm.
Hôm nay là ngày
giỗ lần thứ 10 của cha nó. Nhìn di ảnh ba gầy còm, nhưng nở một nụ cười tươi
sáng. Nhìn con cá chiên to đùng, lấp lánh mỡ mà vợ đặt lên bàn thờ, nó chợt bất
giác rơi lệ. Một cơn đau từ đâu hiện về nhói lòng vô tận.
Nó phải quay mặt
đi để lau hàng lệ, để giấu vợ con. Nhưng nó không thể xóa đi được hình dáng cha
già còm cõi, xiêu vẹo bước đi bên sông, “cha đi thả cá mùa nước nổi”. Rồi sau
đó là những trận thương hàn triền miên hành hạ ông. Nó không thể xóa đi được
cái ý nghĩ “nếu cha ăn nhiều thịt hơn, thì đã không già yếu như thế”. Vừa khấn
vái, nó lại bất giác kêu lên những tiếng “cha” từ trong cổ họng.
Đến lúc ra bàn
ăn. Nhìn vợ đang xẻ thịt con cá, để bỏ đi phần đầu và xương. Nó giữ tay vợ lại:
“Em, để anh ăn đầu, đừng bỏ đi”.
Vợ hiểu. Vợ nó bỏ
đầu cá qua cho chồng. Chỉ có cô con gái nhỏ là thắc mắc “Sao hôm nay ba lại ăn
đầu, nó lắm xương, nó sẽ làm đau ba đấy”.
Nó xoa đầu con
gái, nuốt tiếng nấc đang chầu chực nơi cổ họng vào trong, bảo “Dạo này ba hay
đau đầu, nên ăn đầu sẽ hết đau con gái à, cái này gọi là ăn đầu bổ đầu đấy con
yêu”.
Nó vừa ăn vừa cố
cho những giọt nước mắt không tràn xuống bát cơm.
Sưu tầm
Thứ Hai, 13 tháng 1, 2014
Phép
màu giá bao nhiêu?
Một cô bé tám tuổi
nghe cha mẹ mình nói chuyện về đứa em trai nhỏ. Cô bé chỉ hiểu rằng em mình
đang bị bệnh rất nặng và gia đình cô không còn tiền. Chỉ có một cuộc phẫu thuật
rất tốn kém mới cứu sống được em trai cô bé, và cha mẹ em không tìm ra ai để
vay tiền. Do đó, gia đình em sẽ phải dọn đến một căn nhà nhỏ hơn vì họ không đủ
khả năng tiếp tục ở căn nhà hiện tại sau khi trả tiền bác sĩ.
Cô bé nghe bố
nói với mẹ bằng giọng thì thầm tuyệt vọng: “Chỉ có phép màu mới cứu sống được
Andrew”. Thế là cô bé vào phòng mình, kéo ra một con heo đất được giấu kỹ trong
tủ. Em dốc hết đống tiền lẻ và đếm cẩn thận.
Rồi cô bé lẻn ra
ngoài bằng cửa sau để đến tiệm thuốc gần đó. Em đặt toàn bộ số tiền mình có lên
quầy.
Người bán thuốc
hỏi: “Cháu cần gì?”
Cô bé trả lời:
“Em trai của cháu bệnh rất nặng và cháu muốn mua phép màu.”
- Cháu bảo sao?
– Người bán thuốc hỏi lại.
- Em cháu tên
Andrew. Nó bị một căn bệnh gì đó trong đầu mà ba cháu nói chỉ có phép màu mới cứu
được nó. Phép màu giá bao nhiêu ạ?
- Ở đây không
bán phép màu, cháu à. Chú rất tiếc – Người bán thuốc nở nụ cười buồn và tỏ vẻ cảm
thông với cô bé.
- Cháu có tiền
trả mà. Nếu không đủ, cháu sẽ cố tìm thêm. Chỉ cần cho cháu biết giá bao nhiêu?
Trong cửa hàng
còn có một vị khách ăn mặc thanh lịch. Sau khi nghe câu chuyện, ông cúi xuống hỏi
cô bé: “Em cháu cần loại phép màu gì?”
- Cháu cũng
không biết nữa – Cô bé trả lời, rơm rớm nước mắt. “Nhưng em cháu rất cần phép
màu đó. Nó bị bệnh nặng lắm, mẹ cháu nói rằng nó cần được phẫu thuật, và hình
như phải có thêm loại phép màu gì đó nữa mới cứu được em cháu. Cháu đã lấy ra
toàn bộ số tiền để dành của mình để đi tìm mua phép màu đó.”
- Cháu có bao
nhiêu? – Vị khách hỏi. Cô bé trả lời vừa đủ nghe: “Một đô la mười một xu.”
Người đàn ông mỉm
cười: “Ồ! Vừa đủ cho cái giá của phép màu”.
Một tay ông cầm
tiền của cô bé, tay kia ông nắm tay em và nói: “Dẫn bác về nhà cháu nhé. Bác muốn
gặp em trai và cha mẹ cháu. Để xem bác có loại phép màu mà em cháu cần không.”
Người đàn ông
thanh lịch đó là Bác sĩ Carlton Armstrong, một phẫu thuật gia thần kinh tài
năng. Ca mổ được hoàn thành mà không mất tiền, và không lâu sau Andrew đã có thể
về nhà, khỏe mạnh.
Mẹ cô bé thì thầm:
“Mọi chuyện diễn ra kỳ lạ như có một phép màu. Thật không thể tưởng tượng nổi.
Thật là vô giá!”. Cô bé mỉm cười. Em biết chính xác phép màu giá bao nhiêu. Một
đô la mười một xu, cộng với niềm tin chân thành của một đứa trẻ, và lòng tốt của
người bác sĩ.
Nguyên
liệu và chiếc bánh
Mỗi sự vật, sự
việc xảy ra hàng ngày trong cuộc sống quanh ta đều có lý do riêng và đều chứa đựng
một ý nghĩa sâu xa của riêng nó.
Một cậu bé than
thở với bà nội về đủ thứ chuyện tồi tệ ở lớp học, ở nhà và cả những khó khăn
trong học tập, những chuyện phức tạp, khó khăn khác trong cuộc sống… mà hàng
ngày cậu phải đương đầu.
Trong lúc đó, bà
nội của cậu đang cặm cụi trong bếp để chuẩn bị nướng một chiếc bánh. Bà nội nhờ
cậu bé giúp mình một tay.
- Cháu lấy giùm
bà chai dầu ăn nhé ! – Bà nội nói.
- Vâng! Chai dầu
ăn của bà đây ạ !
- Cháu thấy mùi
vị của nó thế nào ?
- Ôi! Khiếp quá!
Mùi vị gì mà béo ơi là béo !
- Bây giờ cháu lấy
cho bà mấy quả trứng và đập bỏ vào tô rồi quấy đều lên.
Cậu bé nhanh nhẹn
giúp bà.
- Cháu thấy mấy
quả trứng có mùi vị thế nào ?
- Mùi vừa ngậy
ngậy vừa tanh tanh, rất khó ngửi.
- Cháu có thích
nếm thử bột mì không?
- Cháu thấy nó
chẳng có mùi vị gì hấp dẫn cả, lại làm cháu suýt nữa bị sặc.
- Cháu thêm vào
đây cho bà ít muối.
- Bà ơi! Muối
sao mà mặn quá?
- Bây giờ, cháu
rắc vào đây thêm một ít tiêu nữa.
- Mùi tiêu cay nồng
làm cháu chảy cả nước mắt!
- Cháu nói đúng
đấy! Nhưng nếu không có tất cả những thứ nguyên liệu như vừa rồi thì bà cháu
mình không thể nào làm được một chiếc bánh ngon tuyệt như cháu đang thấy đâu!
Vâng, cuộc sống
của chúng ta cũng như vậy! Chắc bạn đã từng rất nhiều lần than phiền về đủ thứ
chuyện khó khăn, những sự vật, sự việc phức tạp mà bạn phải đương đầu hàng
ngày, phải không?
Mỗi sự vật, sự
việc xảy ra hàng ngày trong cuộc sống quanh ta đều có lý do riêng và đều chứa đựng
một ý nghĩa sâu xa của riêng nó. Liệu bạn cứ than trách về chúng hay là bạn biết
sử dụng chúng như những thứ “nguyên liệu” cần thiết để làm nên “chiếc bánh”
ngon tuyệt, tất cả đều tùy thuộc vào chính bạn mà thôi.
Lá thư gởi Mẹ
Mẹ!
Con yêu mẹ. Con yêu mẹ. Và con sẽ sống thật tốt như những gì bà ngoại đã dạy mẹ
để mẹ dạy con. “Sống không quỵ lụy ai, không hài lòng và không giả dối”.
Mẹ kính yêu..!
Giờ này mẹ đã ngủ….
Con viết cho mẹ
khi con đang say. Hôm nay con uống 2 cốc bia mẹ ạ. Con say. Con khóc.
Ngày 20/10 là gì
hả mẹ? Với mẹ chỉ giản đơn là 1 ngày bình thường thôi nhỉ.
Con khóc. Và con
nghĩ về mẹ. Từ khi con hiểu được 20/10 là gì? Con đã làm được những gì cho mẹ.
Ngày cấp 1 con
xin mẹ 2.000 đồng để đóng tiền mua hoa cho cô giáo chủ nhiệm. Đi học về thấy mẹ
đang bán những tạ than đen nhẻm, cái cân phải luồn đòn gánh vào vì chưa có cân
bàn… vai phải mẹ thường đau mỗi tối.
Ngày cấp 2 con
xin mẹ 10.000 đồng để góp tiền mua hoa cho cô, còn mua thiếp hí hoáy cả đêm tô
vẽ, tặng những người bạn con yêu thương. Mẹ nằm trên giường vắt tay lên trán:
“Tháng này bố mày chắc không được nghỉ phép”…
Ngày cấp 3 con
xin mẹ 50.000 đồng, để cùng các bạn trong lớp cắm trại và liên hoan tới tối muộn
mới về. Mẹ đã lau sạch sẽ nhà cửa, mâm cơm tối vẫn còn để gọn gàng thức ăn cho
riêng con. 2 thằng em chành chọe nhau mệt rồi lại ôm nhau ngủ…
Đại học. Con là
cán bộ lớp, con chúc mừng nhiều người lắm, bạn bè, cô giáo, những cô bác con
quen…những ngôn từ dí dỏm và đặc biệt dành riêng từng người. Mẹ điện thoại lên
và nói những điều như ngày nào cũng điện để nói: ” Đi ngủ nhớ mắc màn, tối nhớ
cài cửa thật kỹ, ngủ sớm đi”.
Nhưng…mẹ biết
không, con luôn nghĩ tới mẹ đầu tiên. Con luôn thế. Ngày bé, có lần con làm tặng
mẹ bài thơ nhưng không dám đưa, có lần mua hoa tặng mẹ rồi lại đưa cho đứa bạn
về… cắm. Có lẽ do mình ở quê mẹ nhỉ? Ở quê những bà mẹ đầu tắt mặt tối, chẳng
chồng con nào tổ chức ngày của mẹ.
Con lên thành phố
-Con gặp những
người đàn bà ngang tuổi mẹ. Họ mặc váy và đi dép cao. Họ bước những bước đi uốn
dẻo nhẹ nhàng lịch lãm, không vội vã, tất bật như mẹ. 8h tối họ trang điểm và
đi cafe, mẹ cơm nước, giặt giũ và mắc màn cho chúng con ngủ.
-Con gặp những
người đàn bà ngang tuổi mẹ. Họ nói về mooda, về khiêu vũ, về những chuyến công
tác đi mệt lử nhưng biết nơi này, nơi kia, biết món này món kia. Còn mẹ của
con, khi con điện thoải về hỏi: Mẹ ơi con ghẹ là con gì mẹ nhỉ? có người nói với
con là con ghẹ ăn ngon. Mẹ trả lời: “Mẹ cũng không rõ lắm, hình như nó giống
con hến, con ngao”…Và khi con được biết về con ghẹ. Con khóc.
-Con gặp những
người đàn bà ngang tuổi mẹ. Chồng họ chở đi siêu thị mỗi tuần, và đi mua cho những
bộ quần áo đẹp. Vậy mà những lúc chán chồng, họ đi ra phố phường với đám bạn,
và vào vũ trường, vào cafe. Còn mẹ, mẹ khóc mỗi khi bố làm mẹ buồn. Và mẹ nói với
chúng con: “Chỉ mẹ được nói bố, chúng mày là con dù bố mẹ có sai đến thế nào
cũng không có quyền nói…”.
Mẹ
của con,
Lúc này con nhớ
về tuổi thơ con. Quãng đời con trải qua bên mẹ. Chúng con luôn có mẹ ở bên. Và
bố cũng thế, bố gọi điện thoại mỗi ngày mẹ nhỉ, và bố gặp lần lượt từ mẹ tới 3
đứa con… Bố mỗi tháng về 1 lần. Chúng con lớn lên, đứa nào cũng sáng sủa khôn
ngoan, ai cũng khen mẹ thật giỏi, bố thật may vì có mẹ… Bố con cũng là một người
đàn ông tuyệt vời phải không mẹ. Dẫu đôi lúc bố làm mẹ buồn, nhưng con người có
ai hoàn hảo đâu? Con cũng thấy xấu hổ lắm, khi con, khi em con, chẳng ngoan như
những gì mẹ đã chờ mong.
Mẹ! Mẹ ngủ đi, đừng
thức nữa, sao giấc ngủ mẹ chẳng sâu thế. Sao sau 1 đêm mắt mẹ càng quầng? Sao mẹ
hay ốm đau?
Mẹ! Con yêu mẹ.
Con yêu mẹ. Và con sẽ sống thật tốt như những gì bà ngoại đã dạy mẹ để mẹ dạy
con. “Sống không quỵ lụy ai, không hài lòng và không giả dối”.
Con đã lớn khôn,
con đã trưởng thành, nhưng những tối rúc đầu vào nách mẹ mà ngủ vùi, tới sáng vẫn
dang chân tay trên giường ngon giấc…còn mẹ đã nấu xong bữa sáng. Con bỗng thấy
mình như một công chúa nhỏ, thấy con là người hạnh phúc nhất thế gian, vì tất cả
những gì bố mẹ dành cho chị em con, là những điều con không mong gì hơn thế nữa.
Đêm nay con chúc
mẹ ngủ ngon, và bố ở nơi xa sẽ luôn mơ về mẹ!
Niềm
quên quen thuộc
Tại một khách sạn
sang trọng trong thành phố, anh cho bày một yến tiệc mời mẹ đến. Vì việc này mà
vợ và anh đã không ít lần cãi nhau, vợ nói: nhà đã dư dả gì đâu, lại còn bày vẽ
thêm chuyện?
Anh giải thích: mẹ
vất vả nuôi anh khôn lớn. Kết hôn đã 8 năm, đây là lần đầu tiên mẹ từ quê ra
chơi, anh muốn mẹ yên tâm, cuộc sống của anh không thiếu thốn chi cả.
Vợ không thay đổi
được ý định của anh, đành ấm ức đi đến khách sạn. Trong bữa ăn, vợ không ngừng
gắp thức ăn cho con trai. Tuy ở trong thành phố, nhưng đây là lần đầu tiên thằng
bé mới được ăn những món ngon thế.
Mẹ ăn rất ít,
ánh mắt hiền từ nhìn con cháu, mỉm cười hạnh phúc. Anh nói mẹ ăn nhiều một
chút, mẹ cười nói: “Mẹ già rồi, ăn một chút vào là no”. Nhìn bàn ăn còn đầy,
anh khó chịu bảo mẹ: “Mẹ. Ở khách sạn này có qui định, đồ ăn thừa sẽ bị phạt tiền,
không được gói mang về.”
Vợ ngồi cạnh liếc
anh một cái: bày trò gì đây? Đồ ăn ngon thế này, nếu gói về vẫn có thể cho con
ăn thêm, nó đang tuổi ăn tuổi lớn.
Mẹ nghe vậy, bắt
đầu mới động đũa. Trong mắt anh, đây là lần đầu tiên mẹ ăn được nhiều như thế.
Mẹ đi rồi, vợ lại
muốn tranh luận với anh. Anh bỗng chảy nước mắt nói: “Từ nhỏ tới lớn, trong nhà
có đồ gì ăn ngon, mẹ đều không dám ăn mà dành hết cả phần mình đến bữa sau cho
mấy đứa con.
Đã nhiều năm
trôi qua, thói quen ấy của mẹ vẫn không thay đổi. Anh luôn có một ước muốn, muốn
mẹ được ăn đồ ăn ngon, thay đổi khẩu vị, ăn nhiều một bữa, đâu ngờ chỉ có một lần.
Nếu hôm nay anh không nói dối, mẹ nhất định sẽ không động đũa nữa…..”
Anh chưa kịp nói
xong, vợ đã rơi lệ. Vợ nhớ đến mẹ mình, cũng chẳng như vậy sao? Ngày hôm nay, vợ
cũng đã làm mẹ, mỗi ngày đều vô tư dành hết tình mẫu tử cho con, vậy mà tình mẫu
tử mẹ dành cho vợ, vợ hình như đã quên mất…..
Sưu
tầm
Thứ Sáu, 20 tháng 9, 2013
Trung Thu cho em
Mong cho em có một mùa
Trăng tròn đầy và ý nghĩa, mong cho em có một mùa Trăng được thỏa thích vui
chơi bên bạn bè, được sống đúng nghĩa trẻ thơ, được tin vào phép màu và chị Hằng,
chú Cuội.
Trung thu đến,
khắp nơi mọc lên các ki-ốt bán bánh nướng, bánh dẻo, những món đồ chơi xanh
xanh đỏ đỏ. Có lẽ, Trung thu trong mắt người Việt mình vẫn là một ngày hội lớn,
ngày mà cả trẻ em người lớn đều thích.
Nhưng thật ra,
bây giờ, đón ngày rằm tháng Tám không đơn thuần chỉ là đồ chơi của lũ trẻ nhỏ.
Đại đa số, đồ thì nhiều, trẻ chơi thì ít…
Vẫn nhớ Trung
thu xưa, lũ trẻ chúng tôi nô nức khắp những con ngõ nhỏ, đứa nào có điều kiện
thì được người lớn mua cho lồng đèn ông sao, lồng đèn cá chép, cao cấp hơn có
loại đèn điện tử bấm là phát nhạc, ánh sáng đỏ vàng lấp lánh trong buổi tối đêm
Trung thu. Còn những đứa trẻ không có nhiều điều kiện, lấy vỏ lon làm đèn, đập
bẹp dí, dùng kéo cắt một tí là được cái lồng đèn nhỏ xinh, cắm nến vào giữa, cứ
thế tối tối mang đi khoe bạn khoe bè. Lồng đèn cho trẻ em ngày xưa không quá
nhiều, chỉ vừa đủ chơi, đa số là tự làm, nhưng đứa nào cũng thấy lồng đèn đẹp,
sáng lạ kỳ lắm, như thể thắp lên trong đáy mắt trẻ thơ về một mùa Trăng mới, hạnh
phúc và ấm no.
Vẫn nhớ Trung
thu xưa, lũ trẻ con ở khắp làng khắp xóm bóc quả bưởi mà nhà mua về thắp hương
hôm rằm, lấy những hạt to, đem phơi no nắng, đợi đến hôm trăng rằm xúm năm tụm
ba chơi trò đốt pháo. Pháo của bọn trẻ làm bằng hạt bưởi nổ không to, nhưng
vui, tiếng cười còn giòn hơn tiếng pháo…
Những mùa Trung
thu xưa bánh kẹo chỉ đếm trên đầu ngón tay, đa phần ăn hoa quả, mà hoa quả cũng
chỉ là bưởi, ổi,… nhà có quà gì thì mang ra bày lên mâm cỗ, để ngoài sân dưới
trăng tròn vành vạnh, chờ trăng lên cao, cao tít, người lớn ở nhà ngồi xúm trên
manh chiếu mảnh trải ngoài sân, uống tuần trà, kể nhau nghe dăm ba câu chuyện,
bọn trẻ con lại tíu tít rồng rắn dắt nhau đi xem múa Lân. Tiếng trống cùng tiếng
cười bọn trẻ vang khắp một khu.
Trung thu nay đổi
mới nhiều rồi, người ta cũng chẳng mấy khi tha thiết một chiếc lồng đèn ông sao
năm cánh dán giấy màu, thay vào đó là những chiếc lồng đèn điện tử đủ hình đủ sắc,
đèn càng to càng đẹp, càng đắt càng sang.
Trung thu nay
không phải là những trò chơi trẻ nhỏ, đa phần bọn trẻ được bố mẹ đưa đi đón về,
kể cả đi chơi, chẳng bao giờ được nghịch, cứ ngồi trên xe, đến những chỗ nào
tụ tập đông người, nghe hát dăm ba bài thiếu nhi rồi về nhà phá cỗ.
Trung thu nay
bánh quá nhiều, nhiều đến mức chẳng thiết ăn, bọn trẻ cũng không háo hức được
người lớn cho quà, cho bánh như ngày xưa nữa, thứ quà bánh Trung thu bây giờ
được người lớn tận dụng làm quà biếu, càng đắt thì tấm lòng càng hậu.
Mỗi thời mỗi
khác, rồi lớp trẻ sẽ ghi sâu vào tuổi thơ của chúng những ký ức mà người lớn
mang lại cho chúng những ngày còn nhỏ. Dẫu vậy, không ai trong chúng ta mong
muốn rằng con em mình mất đi hồn nhiên trẻ nhỏ, vô tình bị đóng khuôn bởi những
phép tắc và giáo điều của phụ huynh.
Mong cho em có
một mùa Trăng tròn đầy và ý nghĩa, mong cho em có một mùa Trăng được thỏa
thích vui chơi bên bạn bè, được sống đúng nghĩa trẻ thơ, được tin vào phép
màu và chị Hằng, chú Cuội.
Trên tất cả,
mong cho em một mùa Trung thu không mới…
|
Thứ Sáu, 7 tháng 6, 2013
CHUYỆN SÀI SÒN
Những ai đã từng sống ở Sài Gòn chắc
cũng từng quen thuộc với câu cửa miệng “chiện nhỏ” (phát âm đúng theo dzọng Sài
Gòn là “chiện” chứ không phải là “chuyện”)
Đây là một bộ sưu tầm những chiện lặt
vặt về người Sài Gòn, cách cư xử của người Sài Gòn. Những bác nào không
phải người Sài gòn thì đọc để hiểu thêm về người Sài gòn nhé.
Đọc để thấy cuộc sống vẫn còn nhiều
đều tốt đẹp.
Chuyện 1.
Đó
là một con hẻm khá rộng rãi ở giữa nhưng hai đầu thì nhỏ xíu, chỉ chạy lọt chiếc
xe máy, nối hai trục đường chính ở quận 3. Trong hẻm nhà cửa san sát, nhà mới
xây cao 3~4 tầng cũng nhiều mà nhà cũ, mái tole gác gỗ cũng sin sít, nhiều nhà
dùng phía trước để buôn bán nhỏ, bán đồ ăn hoặc tạp hóa, nhiều nhà mở tiệm gội
đầu hoặc đặt biển công ty mà chẳng có nhân viên. Dân cư trong hẻm hầu hết đều
biết nhau, cũng có một vài người mới dọn tới hoặc thuê nhà trong hẻm nhưng họ
nhanh chóng làm quen với cư dân hẻm.
Bà
chủ nhà trọ của tôi được gọi là cư dân lâu đời nhất của hẻm, hơn 60 năm. Bà là
người cất nhà đầu tiên trên đất này. Bà kể, lúc bà vô Sài Gòn năm 16 tuổi, cả
nhà bà đi trên một cái ghe. Lúc đó hẻm này, từ đầu đến cuối, là một con rạch rộng
và sâu, bơi chừng vài chục sải mới sang bờ, tuy thông với nhiều rạch khác nhưng
nước ở rạch này lại trong veo, đáy toàn cát. Bờ bên này, chỗ nhà trọ tôi ở, là
một cái bến thuyền tấp nập suốt ngày đêm. Cha của bà đã dựng cái chòi đầu tiên
trên bến, đúng chính chỗ căn nhà bây giờ, lúc đó ban đêm gió từ những con rạch
thổi lồng lộng đến nỗi muốn cuốn bay mọi thứ.
Có
nhiều sông rạch, nhiều đầm lác, nhiều rừng dừa nước đã biến mất, nhường chỗ cho
phố xá và những con hẻm đầy nhà, đầy người, ở Sài Gòn.
Chuyện 2.
Ở
một showroom sang trọng của một hãng xe hơi nổi tiếng mà giá của một chiếc xe nằm
ngoài khả năng đếm của nhiều người, vào một buổi trưa trời nắng gắt bên ngoài
nhưng bên trong vách kính thì mát lạnh. Anh nhân viên bán hàng mặc đồ vest với
cà vạt và dày da bóng lộn đang ngồi xem tivi.
Có
một cụ ông đi bộ ngoài đường mở cửa vào showroom. Trông ông có vẻ không được
khá giả lắm, tuy cũng vận áo sơ mi ngắn tay cũ và một chiếc quần khaki ngả màu.
Ông cụ bước vào, đảo mắt nhìn một lượt rồi chắp tay sau lưng đi đến những chiếc
xe trưng bày và bắt đầu xem xét. Anh nhân viên bán hàng bật dậy đi theo cụ, anh
đi nhẹ nhàng và tỏ vẻ lịch sự. Anh gọi cụ là ngoại. Ngoại ơi, ngoại à. Mỗi lần
cụ dừng lại ở một chi tiết anh lại đề nghị được cho cụ xem rõ hơn, anh mở cửa
trước, cửa sau, mở nắp capo để cho cụ xem. Khi cụ tỏ ý thắc mắc thì anh lại nhẹ
nhàng giải thích với cụ, cụ già cứ gật gù lắng nghe nhưng có vẻ không hiểu mấy.
Đi
chán cũng mỏi, anh bán hàng mời cụ già lại chỗ sofa có cái bàn kiếng sạch bóng
và mời cụ dùng café, loại café đá pha sẵn thôi. Mãi sau cụ già nói với anh: qua
thấy chỗ bán xe hơi này sang trọng quá, lại có máy lạnh nên qua vô xem chơi, chứ
xe này cả dòng họ qua gom tiền lại cũng mua không nổi. Anh nhân viên vẫn rất lịch
sự: dạ con biết, sẵn ngoại vô chơi thì con giới thiệu luôn để ngoại coi xe, đâu
phải ai vô coi xe cũng mua đâu ngoại. Anh cười, coi bộ hiền khô.
Chuyện 3.
Một
góc ngã tư giao lộ giữa hay con đường thuộc loại đông nhất nhì Sài Gòn, nơi thường
xuyên bị kẹt xe, nhất là vào giờ cao điểm. Bên cảnh sát giao thông phân công
hai anh sĩ quan đến trực ở ngã tư này để giải quyết nạn ùn tắc và xử phạt mấy
phương tiên chạy ẩu, nhất là mấy chiếc xe hơi rẽ trái sai luật.
Hai
anh sĩ quan này có lẽ thuộc loại vất vả nhất trong ngành vì thời gian của hai
anh hầu hết đều phải đứng ngoài nắng ngoài mưa để phân luồng và điều chỉnh đèn
tín hiệu, chỉ cần hai anh vắng bóng một lúc là cái ngã tư lại nùi nùi một mớ xe
cộ.
Chỗ
hai anh đứng có một cái tủ điện chìm, lúc nào cũng có nước uống. Sáng thì café,
nắng lên thì trà đá, chiều thì có nước đá chanh… Mỗi khi uống hết nước thì anh
sĩ quan trẻ hơn băng qua đường đem trả những cái ly cho một quán cóc gần đó.
Quán cóc vỉa hè nhưng lúc nào cũng có khách ngồi.
Lát
sau bà chủ quán lại bưng qua một món thức uống mới, đúng lúc tôi đứng gần đó.
Anh sĩ quan lớn tuổi hơn quay qua nói, hình như cốt để cho tôi nghe: bà này bả
cho tụi tôi uống nước miễn phí cả tháng nay, nói hoài mà hông chịu cầm tiền,
mơi không uống nữa nghen bà. Bà già cười lớn, ha hả, mấy chú làm việc cực khổ,
tui đãi miếng nước, chuyện nhỏ xíu mà, mấy chú uống cho tui dzui.
Chuyện 4.
Dạo
này Sài Gòn trời nắng gắt, đi ngoài đường hay thấy mấy thùng ghi “trà đá miễn
phí”, ai muốn uống thì uống, dân xe ôm, xích lô là khoái dữ lắm, ghé uống ừng ực
rồi cứ vậy đi, không cần phải cảm ơn.
Một
lần ông xe ôm chở tôi xin phép tấp vô lê uống ly trà đá, tôi mới biết là có trà
đá miễn phí. Đó là thùng trà đá miễn phí tôi thấy đầu tiên, nó ở gần bệnh viện
115, mặc dù nó không có bảng ghi “miễn phí”, chỉ thấy một thùng trà đá để ngoài
đường, ai qua lại nếu biết cứ tự động rót mà uống. Uống hết có người ra châm
trà, châm nước, bỏ đá vô.
Tôi
hỏi ông xe ôm, trà đá miễn phí kiểu vầy có nhiều không chú. Ổng nói cũng nhiều,
tùy mình biết chỗ mà ghé uống, trời nắng vầy có ly trà đã cũng đã lắm chú. Tui
không phải nghèo đến mức cần phải uống trà đá miễn phí, tui uống bị thấy khoái
vậy thôi.
Chuyện 5.
“Bây
giờ cầm tờ báo lên là rầu, hết muốn coi báo” – Câu này của một đại gia Sài Gòn.
Đại gia này có lẽ đã về hưu, con cái đã thành đạt lấy vợ lấy chồng ở riêng hết.
Đại gia này thường hay ngồi ở quán café cóc của bà già ở mẩu chuyện số 3. Sáng
nào cũng có mặt, dù nắng hay mưa.
Sáng
nào đại gia cũng mua báo, chắc chắn là có Tuổi Trẻ, Thanh Niên, Người Lao Động,
Công An, Pháp Luật… thỉnh thoảng mua tờ tạp chí hoặc nguyệt san. Đại gia chỉ
mua báo của hai người, một con bé và một thằng bé quen, bữa đứa này bữa sau đứa
kia. Hai đứa trẻ bán báo không bao giờ cạnh tranh nhau quyết liệt hoặc tỏ ra
giành mối, chúng vui vẻ cùng phục vụ một vị khách hàng. Đại gia mua rất nhiều
nhật báo nhưng lúc ra về chỉ đi tay không.
Sau
này, khi có dịp ngồi ở quán café cóc đó suốt một buổi sáng tôi mới biết. Nếu
hôm đó đại gia mua báo của thằng bé, sau khi đọc xong ông sẽ gấp tờ báo lại như
cũ và đem cho con bé đi bán tiếp và ngược lại, nếu mua của con bé thì ông sẽ
đem cho thằng bé để nó đi bán cho người khác, tiền thì ông vẫn trả đủ.
Chuyện
6.
“Cho nhiêu cũng
được” – Câu này ai ở Sài Gòn chắc là biết, chắc thỉnh thoảng có nghe, nhất là
khi đi taxi, xe ôm, xích lô… nếu là khách đi quen rồi hoặc quãng đường gần quá
khó trả giá thì bác tài sẽ nói vậy: chú (cô) cho nhiêu cũng được. Nói vậy chứ
ai đành lòng cho ít, ví như đúng ra bảy ngàn thì khách sẽ đưa mười ngàn cho chẵn
tiền.
Đó cũng không hẳn
vì ít tiền quá mà nói vậy, cũng có khi nhiều thứ giá trị hơn người bán cũng
nói: cho nhiêu cũng được. ví dụ như chuyện có cô giáo nọ dạy văn ở một trường cấp
hai, cô nổi tiếng là thương học trò như con. Mỗi buổi sáng cô hay đi chợ ở gần
nhà để tiện việc cơm nước. Trong chợ có rất nhiều người biết cô là cô giáo, và
họ thường gọi luôn là “cô giáo”. Nhiều khi cô giáo cũng khó xử với các bà, các
chị trong chợ, họ cứ bỏ vô giỏ cô khi thì con cá, khi thì bó rau, khi thì ký thịt…
khi cô đòi trả tiền thì họ không chịu lấy hoặc nói: cô giáo cho nhiêu cũng được.
Cho nhiêu cũng
được
Chuyện
7.
Ông là thương
binh, thương binh của chế độ cũ, ông bị thương gần ngày Sài Gòn giải phóng. Sau
giải phóng ông làm nhiều nghề để sinh sống và để nuôi ba đứa con ăn học. Một lần
nọ ông làm công việc bảo vệ ở một nhà hàng vào buổi tối, đó là một nhà hàng lớn
và có rất nhiều nhân viên và thực chất công việc của ông là chuyên đắt xe cho
khách đến ăn nhậu mà thôi. Chủ nhà hàng là một người đàn ông khá giả và cư xử rất
được.
Một hôm có chuyện.
Đêm khuya khi nhà hàng chuẩn bị đóng của và người chủ cũng chuẩn bị ra về thì
có một nhóm người hung dữ cầm mã tấu xông vào nhà hàng truy sát người chủ. Người
đàn ông tuy khá cao to và nhanh nhẹn nhưng khó có thể chống cự với bốn năm tên
sát thủ chuyên nghiệp, tất cả mọi người bỏ chạy tán loạn. Ông thấy vậy không được
nên đứng ra bảo vệ chủ mình, vừa đỡ đòn vừa dìu anh này bỏ chạy. Nhờ sự giúp sức
của ông, nạn nhân đã thoát thân tuy cũng bị thương nhẹ, còn ông thì bị hai nhát
chém nặng mà một nhát sau này đã làm ông không thể cử động cánh tay phải.
Người chủ mang
ơn ông lắm dù ông nhiều lần nói “chú ơi, tôi làm công cho chú thì phải bảo vệ
chú thôi, ơn nghĩa gì mà chú cứ nói hoài”. Và mặc dù ông đã nhiều lần từ chối
nhưng người chủ nhà hàng vẫn mua cho ông một căn nhà nhỏ, chu cấp hằng tháng đủ
nuôi cả gia đình ông và cho tiền ba đứa con ông ăn học.
Chuyện xảy ra đã
lâu rồi. Hôm qua tôi ngồi trong ngân hàng, ngồi kế bên cậu con trai lớn của ông
và được nghe câu chuyện này. Cậu nói: chú đó sắp đi Mỹ rồi nên bữa nay chú kêu
con ra ngân hàng mở tài khoản để mai mốt chú chuyển tiền về.
Chuyện
8.
Chuyện này nghe
một bạn sinh viên kể. Bạn nói trước nhà bạn nghèo lắm, mẹ bạn bán vé số ở Quận
Tám và bạn cũng đi bán phụ mẹ. Nếu bạn học buổi sáng thì sẽ phụ mẹ bán buổi chiều
và ngược lại, nhà chỉ có hai mẹ con.
Có một chú thợ hồ
ở gần nhà, nói là gần nhà chứ thực ra là ở một cái chòi trong xóm hẻm sâu sát bờ
kinh, chú này mỗi khi nhậu thường hay mua vé số của hai mẹ con cậu. Chú này mua
không nhiều, mỗi lần chỉ mua hai vé, nhưng điều đáng nhớ là sau khi trả tiền
hai vé thì chú sẽ cho lại cậu một vé, và lúc nào cũng căn dặn: nhớ giữ lại hen
mầy, phải thì cùng đổi đời.
Và cậu đổi đời
thiệt, một lần cặp vé số định mệnh đã trúng giải độc đắc. Người vợ của chú thợ
hồ khi biết chồng mình trúng số độc đắc đã nổi lòng tham và muốn đòi lại tờ vé
số mà chú đã cho cậu buổi chiều trước đó. Nhưng chú thợ hồ đã kiên quyết không
đòi lại, chú còn dùng tiền trúng số đã cả xóm một bữa nhậu linh đình.
Có vốn, mẹ cậu
không bán vé số nữa mà chuyển ra mở quán ăn sáng và cuộc sống của hai mẹ con đã
khá hơn trước rất nhiều. Chỉ riêng chú thợ hồ thì vẫn làm thợ hồ, bây giờ chú
mua vé số của người khác nhưng tật cũ vẫn không bỏ, mua hai vé và cho lại người
bán một vé. Chú luôn dặn: nhớ giữ lại hen mầy, phải thì cùng đổi đời.
Chuyện
9.
Ông chạy xe ôm ở
Quận 10 nhưng nhà ông thì ở tận ngã tư An Sương, vợ ông thì bán vé số nên ông
thường đậu xe kế bên bà. Hai người mang cơm theo ăn buổi sáng và buổi trưa, buổi
chiều thì trả vé về sớm rồi cùng ăn ở nhà.
Quê ông bà ở Cần
Giuộc. Bữa nọ thấy có người trông dáng như ở quê lên, tới ghé cho ông bà hai
con gà, một buồng chuối và một giỏ đệm đầy cá trê phi, con nào con nấy mập ú,
vàng óng. Tôi tò mò hỏi: bà con dưới quê gửi lên hả chú? Ông cười, nói đúng ở
quê gửi lên nhưng mà hông phải của bà con, thằng đó nó chiếm đất của tui đó chớ.
Nhà ông có nhiều
anh em, cha ông có chia cho ông ba công ruộng ở quê. Ruộng đất phèn nên một năm
chỉ trồng được một vụ mà lại có mùa trúng mùa thất nên ông bỏ đó lên Sài Gòn chạy
xe ôm. Ruộng bỏ hoang lại nằm xa xóm nên không ai coi. Một lần ông về quê và
phát hiện ruộng của mình có người chiếm mất. Đó là một gia đình nghèo, hai vợ
chồng và bốn đứa con nheo nhóc, trước họ sống theo ghe nhưng cái ghe nát quá
nên cả gia đình dắt nhau lên bờ kiếm đất hoang lập nghiệp, cũng bị đuổi cùng đường
mới tới đây.
Mới đầu ông cũng
làm căng, thưa lên xã rồi nhờ bà con tới đòi kịch liệt lắm, nhưng do đất nhà từ
xưa không có giấy tờ, lúc chia cũng không lập di chúc nên khó nói lý. Rồi ông
phát hiện bà vợ mình bị tiểu đường nặng nên thời gian của ông chủ yếu ở bên bà,
ông không thiết đòi đất nữa.
Một lần về quê
đám giỗ ông đã ký giấy cho gia đình nghèo nọ ba công đất luôn.
Ông nói, mình
cũng nghèo mà thấy tụi nó còn nghèo hơn. Mình già rồi, sống nay chết mai, thôi
coi như làm phước cho tụi nó. Cũng được cái là vợ chồng nó cũng biết điều, nhận
tía má luôn, đem lên cho đồ hoài, ăn hổng hết.
Chuyện
10.
Sài Gòn rộng, rộng
lắm, nên chuyện ở Sài Gòn người ta hay kêu là: “chiện nhỏ”.
Bùi Cát Vàng
sưu tầm
Thứ Năm, 9 tháng 5, 2013
Bài học cuộc sống 2
Bơ
và những viên đá cuội
Một ngày nọ có
chàng trai trẻ vừa buồn vừa khóc, tìm đến Ðức Phật. Ðức Phật hỏi, “Cái gì sai
trái đã làm nhà ngươi khóc?”
“Thưa ngài, cha
con chết ngày hôm qua.”
“Thì nhà ngươi
làm gì được? Ông ấy đã chết rồi, buồn khóc chẳng thể làm ông ấy sống lại.”
“Vâng, thưa
ngài, con hiểu điều đó; buồn khóc chẳng thể làm cho cha con trở về với con.
Nhưng con đến đây cầu xin ngài một điều: xin ngài hoan hỷ làm một điều gì đó
cho người cha quá vãng của con!”
“Vậy ta có thể
làm gì giúp cho cha con?”
“Thưa ngài, xin
ngài làm một cái gì đó. Ngài là bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Chánh Giác, là đấng
toàn năng, chắc chắn ngài có thể làm được. Ngài hãy xem, các vị Bà La Môn cúng
tế, các thầy ấy phát giấy xá tội, đã cử hành những nghi thức cúng lễ cầu siêu
giúp người quá cố. Và nghi thức cúng tế cầu siêu nếu được tổ chức sớm ở đây,
thì cánh cửa trên thiên giới sẽ được mở ra sớm và người quá cố sẽ được siêu
thăng về nơi đó. Họ sẽ nhận được giấy nhập cảnh. Thưa ngài, ngài là đấng toàn
năng, ngài có đầy đủ quyền lực! Nếu ngài chủ tế nghi thức cầu siêu cho cha con,
cha con không những nhận được giấy nhập cảnh nơi thiên quốc mà ông ấy sẽ được ở
thường trú luôn. Thưa ngài, xin ngài hoan hỷ giúp cha con!”
Biết rằng chàng
trai trẻ tràn ngập nỗi đau khổ chắc khó có thể hiểu được những lý lẽ phải trái
trong lúc này, nên Ðức Phật đã phải dùng một phương tiện khác giúp cho chàng ta
hiểu. Vì thế Phật nói: “Nhà ngươi hãy đi mua hai cái chậu đất nung.” Chàng trẻ
tuổi lấy làm sung sướng, nghĩ rằng Ðức Phật đã nhận lời làm lễ cầu siêu cho cha
hắn và đã tức tốc đi chợ mua hai cái chậu bằng đất nung.
“Ðược rồi,” Phật
nói, “đổ vào chậu thứ nhất đầy đá cuội, chậu thứ hai đầy bơ.” Chàng trẻ tuổi
làm y như lời Phật dạy.
“Bây giờ bịt miệng
cả hai chậu lại, xong bỏ xuống hồ nước. Chàng trai trẻ làm xong, hai chậu chìm
xuống dưới đáy hồ. “Bây giờ” Phật nói, “đem cái gậy ra đây, chọc bể cả hai chậu.”
Chàng trai trẻ rất lấy làm sung sướng, nghĩ rằng đức Phật đã cử hành nghi lễ cầu
siêu cho cha hắn.
Theo tập quán cổ
truyền cổ Ấn Ðộ, khi người cha chết, người con làm lễ hỏa táng. Vào khoảng giữa
thời gian thiêu, người con dùng cây gậy thọc và làm vỡ sọ đầu. Cũng theo niềm
tin cổ truyền của họ, cho đến khi sọ đầu được mở ra nơi trần gian này thì cánh
cửa thiên giới cũng được mở ra. Vì thế chàng trẻ tuổi tự nghĩ là, “Cha ta đã được
thiêu đốt ngày hôm qua. Như là một biểu tượng, đức Phật muốn mình làm vỡ các chậu
ngày hôm nay!” Chàng cảm thấy sung sướng nhiều với nghi thức này của Ðức Phật.
Chàng trai trẻ
đã dùng cây gậy làm bể hai chậu. Lập tức, chậu đựng bơ bị vỡ, bơ nổi lênh láng
trên mặt hồ nước. Chậu kia đựng những hòn đá cuội vẫn nằm yên dưới đáy hồ. Rồi
Ðức Phật nói, “Chàng trai trẻ, đó là những gì ta đã làm. Bây giờ hãy mời các thầy
cúng tế và nói với họ hãy tụng kinh và cầu nguyện: “Hỡi các viên đá cuội, hãy nổi
lên, hãy nổi lên! Hỡi bơ ơi, hãy chìm xuống, chìm xuống!” Hãy cho chúng ta xem
sự kiện xảy ra.”
“Thưa ngài, ngài
nói đùa với con! Không thể nào như thế được, những viên đá cuội nặng hơn nước,
chúng chìm xuống đáy. Chúng chẳng thể bao giờ nổi lên được. Ðây là định luật tự
nhiên! Và thưa ngài, bơ nhẹ hơn nước, chúng nổi lên mặt nước, chẳng bao giờ có
thể chìm xuống được. Ðây là định luật tự nhiên.”
“Chàng trai trẻ
, nhà ngươi biết nhiều về định luật tự nhiên, nhưng nhà ngươi đã không hiểu về
định luật tự nhiên này. Nếu trong suốt cuộc đời của cha nhà ngươi mà ông ấy đã
làm những điều nặng như những viên đá cuội, cha nhà ngươi sẽ bị đọa, ai có thể
giúp cha nhà ngươi siêu thoát lên trên được? Và nếu tất cả việc làm của cha
ngươi nhẹ như bơ, ông ấy sẽ được siêu thoát; ai có thể đè ông ta xuống được?”
Nếu chúng ta hiểu
định luật tự nhiên và sống theo luật tự
nhiên này, chúng ta sẽ vượt thoát khỏi những khổ đau và bất hạnh của cuộc đời.
Cách
sống…
Khi tôi nhìn những
con đường đầy những bông hoa dại, tôi lo ngại đám cỏ ấy sẽ phá đi mảnh vườn của
mình.
Đám trẻ thì lại
tìm hái những bông hoa ấy tặng mẹ và vui đùa với những bông cỏ may…
Khi tôi gặp một
kẻ say khướt đang mỉm cười, tôi chỉ ngửi thấy mùi rượu và sự kinh tởm , những kẻ
khiến tôi phải quay mặt.
Nhưng đám trẻ của
tôi thì nhìn và mỉm cười lại với họ.
Khi tôi nghe những
đoạn nhạc mà mình thích tôi chẳng để tâm chút gì, chỉ ngồi lì và lắng nghe .
Đám trẻ nhà tôi
lại nhún nhảy theo nhịp điệu, hát to lên dù chỉ với những lời mà chúng tự nghĩ
ra.
Khi gió thổi qua
mặt, tôi thu người lại, bực mình vì chúng làm rối mái tóc của mình và những bước
chân thêm khó khăn .
Lũ trẻ thì nhắm
mắt lại, dang hai tay như bay lên cùng với chúng, sau đó thì phá lên cười.
Khi tôi gặp một
vũng bùn, tôi cố bước qua nhanh, lo sợ chúng sẽ làm bẩn giày và day lên những tấm
thảm.
Ŀám trẻ thì ngồi
quanh lại, chúng cố xây các đập nước, các dòng sông và nô đùa với những con
giun.
Khi cầu nguyện ,
tôi luôn mong Chúa sẽ ban cho mình nhiều thứ.
Lũ trẻ thì khẽ
nói : “Chúa ơi, cám ơn vì đã cho con đồ chơi và nhiều bạn bè. Con cũng chưa muốn
lên Thiên đàng với Người vì con nhớ ba và mẹ con lắm!”
Phải chăng chính
trẻ con mới là những nguờ chỉ cho chúng ta cách sống, và có lẽ vì thế những
thiên thần luôn ở bên chúng.
Và hãy tận hưởng
những quà tặng dù nho nhỏ của cuộc sống. Một ngày nào đó, khi nhìn lại bạn sẽ
nhận ra rằng đấy mới chính là những khoảnh khắc đích thực của mình!
Câu
chuyện của dòng sông
Có một dòng sông
rất đẹp chảy qua núi đồi và đồng cỏ xanh tươi. Dòng sông ca hát nhảy nhót tung
tăn từ trên núi xuống đồng bằng. Xuống đồng bằng, dòng sông chảy chậm lại, mặt
nước trong xanh êm mát. Lúc ấy dòng sông còn trẻ lắm, và dòng sông muốn chảy
mau ra biển cả. Dòng sông càng lớn càng đẹp ra, lượn khúc yêu kiều ven đồi và bờ
lúa.
Một ngày kia
dòng sông chú ý đến sự có mặt của những đám mây trong lòng nước. Mây đủ màu sắc,
hình thể, đẹp quá chừng, nên suốt ngày dòng sông cứ miệt mài chạy đuổi theo những
đám mây, mong bắt được một đám mây cho riêng mình. Nhưng mây cứ lơ lững từng
cao khó mà bắt được, nhất là mây cứ thay hình đổi dạng không ngừng. Vì mây vô
thường như vậy nên dòng sông rất đau khổ. Chạy đuổi bắt theo mây thì vui nhưng
sau đó thì dòng sông đầy thất vọng, u sầu và tức giận.
Một ngày kia, một
cơn gió lớn đi qua, quét sạch mây trên trời. Bầu trời trở nên quang đãng không
còn một bóng mây. Dòng sông não nề tuyệt vọng, không còn muốn sống nữa. ” Không
còn mây để chạy theo, ta sống để làm gì? ”
Tối hôm đó, lần đầu tiên trong đời, dòng sông quay trở về tiếp xúc với chính mình. Lâu nay dòng sông chỉ đuổi theo những cái bên ngoài mà không bao giờ thấy được chính mình. Tối hôm đó, lần đầu tiên dòng sông nghe tiếng mình khóc, âm thanh sóng vỡ vào bờ. Dòng sông lắng nghe tiếng của mình và khám phá ra một điều rất quan trọng.
Dòng sông nhận
ra rằng cái mà lâu nay mình theo đuổi đã nằm sẵn trong lòng mình. Tưởng mây là
gì, đâu ngờ mây cũng chỉ là nước. Mây sinh ra từ nước và bây giờ mây trở lại
thành nước. Và dòng sông tự bao giờ cũng vẫn là nước như một đám mây.
Sáng hôm sau,
khi mặt trời lên cao, dòng sông khám phá ra thêm một điều thật đẹp. Đây là lần
đầu tiên dòng sông thấy được bầu trời xanh thẳm. Lâu nay dòng sông chỉ chú ý đến
mây , không chú ý đến bầu trời. Bây giờ sông mới hiểu rằng bầu trời là quê
hương của các đám mây. Mây luôn luôn thay đổi nhưng bầu trời không bao giờ thay
đổi. Và bầu trời cao đã có mặt trong lòng sông tự thuở nào. Cái thấy này đem lại
cho dòng sông một nguồn an lạc lớn.
Dòng sông hiểu rằng
bao giờ bầu trời xanh còn có mặt, niềm an lạc của dòng sông sẽ mãi mãi vững bền.
Trưa hôm đó, các
đám mây lại lục tục trở về nhưng dòng sông không còn có nhu yếu muốn đuổi bắt nữa.
Đám mây nào đi
qua, dòng sông cũng thấy đẹp và cũng vẫy tay chào. Dòng sông không còn thấy buồn
tủi hay lưu luyến. Bởi đám mây nào cũng là một dòng sông , chẳng còn phải chọn
lựa. Một niềm an vui hài hòa đã kết hợp mây và sông.
Tối hôm đó một
điều thật tuyệt diệu đã xảy ra. Dòng sông mở rộng lòng đón mặt trăng rằm, mặt
nguyệt tròn tròn vành vạch và sáng rực rỡ như một viên bảo châu trong dòng nước
trong vắt.
Có một bài kệ
miêu tả hình ảnh đẹp đó:
(
Bồ tát Thanh Lương nguyệt
Du ư tất cảnh không
Chúng sanh tâm cấu tận
Bồ đề ảnh hiện trung)
Du ư tất cảnh không
Chúng sanh tâm cấu tận
Bồ đề ảnh hiện trung)
Bụt
là vầng trăng mát
Đi ngang trời thái không
Hồ tâm chúng sanh lặng
Trăng hiện bóng trong ngần
Đi ngang trời thái không
Hồ tâm chúng sanh lặng
Trăng hiện bóng trong ngần
Dòng sông trong
vắt đã làm hiện rõ bóng trăng và trăng đã cùng mây nước dắt tay nhau đi thiền
hành về biển cả.
Chẳng có gì phải
chạy đuổi theo.
Chỉ cần trở về với
mình, trở về với hơi thở và nụ cười, trở về nơi mình ở, nơi có thông reo, chim
hót và nắng ban mai.
Còn nơi nào đẹp
hơn nữa?
Bốn
người bạn đời
Ngày xửa ngày
xưa… Có một ông vua giàu có. Ông có bốn người vợ. Ông yêu người vợ thứ tư nhất.
Trang phục, trang sức quý nhất; những cử chỉ và lời nói yêu thương nồng thắm nhất,
ông đều dành cho người vợ thứ tư này. Ông cũng yêu người vợ thứ ba nhiều lắm và
từng đưa bà đi theo trong chuyến vượt dặm xa đến vương quốc kế bên. Tuy nhiên,
ông cũng đã mang trong mình một nỗi lo sợ thầm kín: một ngày nào đó bà ấy, người
vợ thứ ba này sẽ rời bỏ ông vì một người đàn ông khác.
Ông còn yêu người
vợ thứ hai nữa. Bà là người bạn tâm tình tốt nhất của ông, luôn chu đáo với ông
và kiên nhẫn ở bên ông trong mọi hoàn cảnh. Bất cứ khi nào có vấn đề khó khăn
hay khó xử, trong bất cứ lĩnh vực nào, ông vua chia sẻ với người vợ thứ hai và
ông đều tìm được từ bà những lời gợi ý cho một lối thoát.
Người vợ thứ nhất
của nhà vua là một cộng sự trung thành của ông và từng có những đóng góp vĩ đại
trong việc gìn giữ ngai vàng cũng như sự giàu sang của ông. Tuy nhiên, ông vua
lại không yêu người vợ thứ nhất. Ông luôn khắt khe với bà, không dành cho bà một
sự chăm sóc nào, mặc cho bà luôn hướng về ông với một tình yêu sâu sắc.
Một ngày, ông
vua ngã bệnh, và ông biết thời gian của ông không còn dài nữa.
Ông đã gọi bốn
người vợ đến, và nói: “Ta yêu tất cả các nàng, từng dành cho các nàng những thứ
tốt nhất, vật chất và tinh thần, mà ta có. Bây giờ ta chết, các nàng cũng sẽ
theo ta, để chúng ta tiếp tục được gắn bó với nhau?”.
“Không có chuyện
đó”, người vợ thứ tư đáp trả và bà bỏ đi không một lời thêm nữa. Câu trả lời của
người vợ thứ tư như lưỡi dao bén ngọt cứa vào trái tim nhà vua.
Nhà vua buồn rầu
hỏi 3 người vợ còn ở lại: “Ta yêu tất cả các bà, những người vợ của ta. Bây giờ
ta chết, các bà sẽ theo ta, để chúng ta tiếp tục được gắn bó với nhau?”.
“Không”, người vợ
thứ ba đáp, “Cuộc sống đang quá tươi đẹp. Khi chàng chết, em sẽ tái hôn!”. Trái
tim nhà vua tan nát.
Còn lại 2 người
vợ, người vợ thứ nhất và người vợ thứ hai, nhà vua lại nói: “Chúng ta từng luôn
bên nhau, trong cả hoạn nạn lẫn khi hạnh phúc. Bây giờ ta chết, các nàng sẽ
theo ta, để chúng ta tiếp tục được gắn bó với nhau?”.
“Xin lỗi, em
không thể giúp chàng lần này rồi”, người vợ thứ hai đáp, “Những gì em có thể
làm là chôn cất chàng tử tế”. Câu trả lời của người vợ thứ hai bất ngờ như một
tiếng sấm bên tai, nhà vua hoàn toàn suy sụp.
Rồi thì, nhà vua
nghe một tiếng nói, như vọng từ xa tới: “Em sẽ đi với chàng, dù chàng tới đâu”.
Nhà vua ngước
lên, đó là người vợ thứ nhất. Bà đã trở nên gầy gò, bởi bà đã trải qua một cuộc
sống thiếu thốn, cả về vật chất lẫn tinh thần. Bà từng bị nhà vua bỏ rơi. Buồn
đau và hối hận tột cùng, nhà vua nói: “Ta, đáng lẽ đã phải dành cho nàng một sự
chăm sóc tốt hơn…”.
Trong cuộc đời
mình, chúng ta ai cũng đều có bốn người bạn đời:
Người bạn đời thứ
tư là cơ thể chúng ta. Chúng ta luôn tìm những cách tốt nhất để chăm sóc cơ thể
mình, từ ăn đến mặc. Nhưng cơ thể này sẽ bỏ ta đi, khi ta chết.
Người bạn đời thứ
ba là tài sản, địa vị và sự giàu sang mà chúng ta có. Khi ta chết, tất cả cũng
sẽ không còn ở bên ta mà chuyển sang cho người khác.
Người bạn đời thứ
hai là gia đình và bạn bè của chúng ta. Khi ta chết, tất cả những gì tốt nhất họ
có thể làm được cho ta là lo phần hậu sự của ta chu đáo.
Tâm hồn – đó
chính là người bạn đời thứ nhất của ta.
Tất cả đều quan
trọng và đáng trân trọng. Nhưng, tâm hồn chính là tài sản quý giá nhất, là người
bạn trung thành nhất của ta và cũng là thứ mà ta luôn cần để tâm chăm sóc, nuôi
dưỡng trong từng thời gian sống để đến khi ta lìa bỏ cõi đời, tâm hồn vẫn luôn
tươi mới, trong sáng và nhất là để ta sẽ không có gì phải hối hận.
Cho
đi và sẽ được nhận lại
Có hai anh em
nhà nọ cùng làm việc trên một nông trại của gia đình. Người anh đã lập gia
đình, còn người em vẫn còn độc thân. Mỗi khi kết thúc một ngày làm việc mệt nhọc,
hai anh em lại chia đều những gì mình đã làm được trong ngày, cả phần lúa gạo
cũng như lợi nhuận.
Một ngày nọ, người
em bỗng nghĩ thầm trong bụng: “Thật không công bằng khi chia đôi mọi thứ với
anh. Mình chỉ có một thân một mình, có cần gì nhiều đâu cơ chứ!”. Nghĩ thế, nên
từ đó trở đi, cứ mỗi tối, anh lại lấy bớt phần thóc của mình, băng qua cánh đồng
nhỏ giữa hai nhà và đổ vào kho thóc của người anh.
Trong khi ấy,
người anh cũng thầm nghĩ trong lòng: “Thật không công bằng khi mình chia đều mọi
thứ với em. Mình đã có vợ, có con, không còn phải lo lắng điều gì nữa, còn em
mình chỉ có một mình, đâu có ai để lo cho tương lai”. Và thế là người anh, vào
mỗi tối, cũng lấy bớt phần thóc của mình và đổ vào kho của người em.
Cả hai anh em đều
rất ngạc nhiên khi lượng thóc của mình vẫn không vơi đi chút nào so với trước
đó. Rồi một tối nọ, cả hai anh em va phải nhau trong lúc thực hiện kế hoạch của
mình. Và họ đã hiểu ra mọi chuyện. Bỏ rơi bao thóc trên tay, hai anh em xúc động
ôm chầm lấy nhau…
Chính những điều
chúng ta cho đi sẽ là những gì chúng ta nhận lại !
8
chia 2 bằng mấy?
Trong một lớp học,
cô giáo hỏi các em học sinh; “Theo các em, 8 chia cho 2 thì bằng mấy?”
Cả một rừng cánh
tay đưa lên “Dạ, thưa cô, 8/2 bằng 4 ạ”.
Duy chỉ có một bạn
im lặng và rụt rè; “Thưa cô, em nghĩ khác ạ”.
Mọi người hồi hộp
lo sợ cho bạn này vì kiểu gì cũng bị cô giáo mắng hoặc chê.
“Ừ, em nói đi
nào!”.
“Theo em, nếu cắt
đôi số 8 theo chiều ngang, thì 8/2 bằng 0 ạ. Còn nếu cắt đôi số 8 theo chiều dọc
thì 8/2 bằng 3 ạ”.
Cả lớp ồ lên, và
cô giáo khen “Em thật giỏi!”, sau đó cô giáo làm động tác lấy 2 bàn tay và giấu
ngón cái đi rồi hỏi “Vậy theo em 8/2 bằng mấy?”, cậu bé vui mừng “Dạ, em hiểu rồi,
8/2 bằng 4 ạ”.
Qua câu chuyện vừa
rồi, chắc các bạn đã hiểu “mọi con đường đều dẫn đến thành Rome”, nhưng khổ nỗi
ngay từ nhỏ chúng ta lại được dạy theo một cách mà ở đó chỉ luôn có một con đường.
Vì quá quan tâm đến điểm số và kết quả mà không hiểu lý do vì sao nên chúng ta
luôn sợ hãi khi đi tìm một con đường khác, con đường ít người đi.
Nếu bạn muốn tiến
xa, bạn phải học cách sống trước! Đó là học cách luôn là chính mình, dám dũng cảm
lựa chọn con đường của chính mình, lời giải của chính mình cho tất cả các bài
toán cuộc sống.
Câu
chuyện về vị thần Điềm đạm
Tích xưa, theo
thần thoại Nhật, các vị thần ở trên cõi trời, có một khi cùng tranh nhau quyền
bá chủ thế gian. Bất kỳ là vị nào, cũng đều cho mình là quyền lực trên hết tất
cả Trời Đất. Các vị thần mới nhất định bầu cử một người làm trọng tài trong cuộc
thi chọi, coi ai được làm bá chủ. Vị trọng tài này có trí phán đoán và tính
ngay thẳng đặc biệt, lại cũng là người cao tuổi hơn hết.
Trong các vị thần,
một vị bước ra nói:
“Các ngài hãy
xem đây, sẽ thấy rõ sức mạnh phi thường của tôi như thế nào.”
Tức thời, một
ánh sáng chớp lạnh xương, liền theo đó, tiếng sấm nổ vang, làm rung động cả
không trung, dường như cả thế gian đều rung rinh sắp đổ. Các vị thần đều tái mặt.
Lúc bấy giờ, không còn một ai còn dám nghĩ là mình là người bất khả xâm phạm nữa.
Vị thần Bão tố,
bước ra nói:
“Sức mạnh của
tôi, còn ghê gớm hơn nữa. Hãy xem dưới kia, cánh đồng mênh mông lặng lẽ…”
Nói vừa dứt lời,
bỗng mặt nước biển dâng lên… Ban đầu từ từ… kế đó sóng nổi gió tung… Nước càng
dâng, gió càng lớn, sóng càng to… cuồn cuộn ầm ầm… chỉ thấy còn có một vùng nước
mênh mông trắng dã… Những ngọn núi cao, sóng đánh lấn riết, không còn thấy mặt…
Sóng càng lúc càng cao, gió càng lúc càng lớn… hăm he chìm ngập đến cõi trời…
Các vị thần thất sắc, cầu khẩn xin tha… Thần Bão tố vẫy tay một cái: sóng lặn,
gió êm… bấy giờ nước biển lao xao, sóng chạy lăn tăn trên bãi cát.
Các vị thần vừa
tỉnh trí hoàn hồn, thì nghe có một giọng lảnh lót cất lên:
“Sức mạnh không
phải ở nơi sự phô trương của sức bạo tàn, vì nó chỉ có phá hoại mà không tạo lập.
Sức mạnh ở cái thuật khuất phục con người và giữ gìn họ ở trong khuất phục ấy bằng
ý muốn của họ. Người ta cảm vì sự dịu dàng mà chịu khuất phục chớ không phải vì
bị khủng khiếp mà chịu khuất phục”.
Dứt lời, vị thần
Âm nhạc lấy ống tiêu… thổi lên một hơi, nhẹ nhàng êm ái như thế nào mà hết thảy
các vị thần mê mẩn tâm thần, như ngây, như dại… Tất cả đều như bị sức âm nhạc
lôi cuốn vào giấc ngủ thôi miên.
Nhưng có một vị thần… thái độ huyền bí, dường như thản nhiên bất động.
Vị này không thấy
sấm sét mà choá mắt.
Sóng bủa, nước
dâng cũng không khiến gương mặt trầm tĩnh của ông thay đổi.
Mà tiếng nhạc du
dương, thâm trầm, huyền hảo kia cũng không cảm động lòng ông chút nào cả.
Vị trọng tài day
qua hỏi:
“Ngài có phải bị
mù, điếc gì không?”
“Không. Tôi thấy
và tôi nghe.”
“Tại sao Ngài
không động lòng. Sấm nổ, nước dâng không làm cho quả tim Ngài dao động lên sao?
Nhạc thần, tiêu thánh không làm cho tâm hồn Ngài xao xuyến sao?”
“Ngài lầm! Quả
tim tôi cũng đập, tâm hồn tôi cũng xao.”
“Nhưng sao gương
mặt Ngài, tôi không thấy lộ vẻ lo sợ hay vui sướng gì cả?”
“Không. Tôi là
“Điềm Đạm”. Tôi là kẻ huấn luyện cảm giác tôi, tôi là kẻ đã làm chủ cảm giác
tôi rồi. Còn các Ngài, các Ngài chỉ là những người làm tôi mọi nó vì chính các
Ngài đã không thể chế trị nó.”
Có ích gì lo đi chế trị sự vật quanh mình, trong lúc mà, một tiếng nhạc tiêu tao cũng đủ làm cho cái tay cầm sấm sét kia phải rụng rời như rũ liệt…
Còn nói đến uy lực
nỗi gì, kẻ có tài ảo hoặc người kia, khi thấy nước dâng, nghe sấm nổ, cũng vẫn
lao nhao lo sợ như ai…
Các vị thần, cúi mặt làm thinh.
Các vị thần, cúi mặt làm thinh.
Vị trọng tài nói tiếp:
“Quyền bá chủ,
là người này. Sức mạnh thật, nơi tâm hồn điềm tĩnh của người này!”
Hơn cả sự điều
khiển sự vật, người này đã khéo léo biết điều khiển tình dục của mình.
Bất kỳ là một thế
lực nào, nếu còn bị một thế lực khác đánh ngã, không còn gọi đặng là sức mạnh nữa.
Người này không phô trương những thế lực vô ích như thế, rõ là người có sức mạnh
trên hết.
Bất kỳ là những ám thị những dẫn dụ nào, cũng không làm nao núng tâm hồn người này đặng. Trái lại, người này đã thấy hết, và đã khéo lợi dụng cả thảy để làm tôi mọi cho mình. Nếu các anh em, tin cậy nơi sự phê phán của tôi, thì tôi xin nói thật: “Vị thần Điềm Đạm này là chúa tể của chúng ta cả thảy”.
Từ đấy đến nay,
câu phê phán ấy vẫn không sai giá.
Bán
lược cho sư
Cậu bé nhận thấy
khu vực mình đang đi giao bán lược thì chỉ có ngôi chùa là nơi tụ tập nhiều người
ra vào, cậu liền nghĩ chỉ có thể vào ngôi chùa đó thì mọi người ta mới để ý đến
cậu mà có thể bán được lược.
Và cậu ta nghĩ,
trong chùa thì chủ yếu là sư, mà sư thì không dùng đến lược , nhưng cậu bán lược
vấn nhất định vào ngôi chùa để bán lược, chỉ có vào mới biết có bán được không.
Cậu vào chùa và gặp được sư trụ trì:
- Sư trụ trì ơi
người hãy mua lược giúp con
Sư trụ trì thấy làm lạ:
Sư trụ trì thấy làm lạ:
- Nhà ngươi nghĩ
gì mà bảo ta mua lược , nhà sư thì làm gì có tóc mà phải dùng lược.
Cậu bán lược
nghĩ thấy cũng đúng và quay về. Khi đi qua bờ suối thấy các chú tiểu đang tắm
và kỳ lưng cho nhau cậu nảy ra ý tưởng và quay lại gặp sư trụ trì:
- Sư trụ trì ơi
hãy mua lược giúp con
- Ta đã nói là
không dùng đến lược thì mua làm gì
- Người hãy mua
lược cho các nhà sư để khi tắm họ có thể dùng lược mà kỳ lưng cho nhau
Sư trụ trì thấy
ý kiến của cậu bán lược rất đúng liền mua cho cậu ta 1 chiếc lược.
Ngày hôm sau, cậu
bán lược lại đến tìm sư trụ trì:
- Sư trụ trì ơi
hãy mua lược cho con
- Ta đã mua lược
cho nhà ngươi rồi sao lại đến
- Thưa sư trụ
trì, con thấy mọi người đến chùa đều muốn chỉnh trang lại đầu tóc gọn gàng để
vào bái phật, vậy người hãy mua lược để ở những nơi nghỉ ngơi để người đến cầu
phật có nơi chỉnh trang lại rồi vào bái phật.
Sư trụ trì nghe
vậy thấy có lý liền đồng ý mua cho cậu ta 10 chiếc và để ơ mỗi nơi một chiếc
cho du khách tới chùa.
Đến ngày thứ 3,
Sư trụ trì lại thấy thấy cậu bán lược:
- Sư trụ trì ơi
hãy mua lược cho con
- Lược mới mua
đã hỏng ngay đâu mà nhà ngươi lại bảo ta mua lược
Cậu bán lược:
- Xin người hãy
nghe con nói, con thấy ngôi chùa có rất nhiều khách đến bái lễ, không chỉ người
ở xung quanh đây mà còn ơ khắp nơi tới, vậy tại sao sư trụ trì không mua lược
và cho khắc tên chùa trên những cái lược để coi đó la những món quà cho du
khách và cũng để quảnh bá ngôi chùa để nhiều người biết đến ngôi chùa này
Từ đó, cậu bán
lược chỉ việc cung cấp lược cho nhà chùa, sau này ngôi chùa được nhiều người biết
đến với món quà là những chiếc lược.
Bạn
là một cái cây cho người khác
Thuở xưa, có một
người đàn ông không làm được điều gì to tát cả, không có tiền và chán nản. Một
đêm, ông ta cuối cùng không đủ can đảm để sống thêm và đi đến một vực thẳm sửa
soạn nhảy xuống.
Trước khi tự tử,
ông ta khóc rất lớn và hồi tưởng tất cả những khổ nạn trong suốt cuộc đời của
ông ta. Trên một tảng đá cạnh cái vực có một cây nhỏ. Sau khi nghe người đàn
ông khóc lóc, kể lể, cái cây cũng khóc vô cùng thảm thiết. Khi người đàn ông thấy
cái cây cũng khóc, ông ta hỏi “Cây cũng khóc hả. Có phải cây cũng chịu đựng nhiều
đau khổ như tôi không?”
Cái cây nói “Tôi
là một cái cây đau khổ nhất trên thế gian. Nhìn tôi đi, sống trên cái tảng đá,
chỉ toàn là đá, không có đất để sinh sản và không có nước để uống. Tôi không đủ
ăn suốt đời. Hoàn cảnh đau khổ này làm các cành cây của tôi khô đét và không nẩy
nở được, vì thế trông tôi rất thảm não từ lúc mới sinh ra. Gốc của tôi rất cạn
làm cho tôi không đứng vững trước gió, và không thể chịu nỗi cơn lạnh trong mùa
đông. Trông tôi rất yếu so với các cây khác, nhưng thật ra đời sống của tôi còn
cực hơn là chết”.
Người đàn ông
không thể chịu được nữa vì quá thương hại cho cái cây bèn nói “nếu như vậy thì
tại sao bạn không kéo thân ra mà chết chung cho rồi “Cái cây nói “chết thì dễ lắm,
tuy nhiên, không có bao nhiêu cây mọc trên vực này cả, tôi không thể chết được”.
Người đàn ông không hiểu nổi. Cây nói tiếp “Bạn có thấy có tổ chim trên thân
tôi không” Hai con chim vành khuyên làm cái tổ này và chúng đã sống và sanh sôi
nẩy nở trên thân tôi. Nếu tôi chết đi, thì hai con chim này sống ở đâu?”
Người đàn ông dường
như hiểu được điều gì đó sau khi nghe những lời này, và thối lùi lại cách ra xa
vực thẳm.
Thật ra, mỗi
chúng ta không chỉ sống riêng cho mình ta. Không cần biết là một con người thấp
kém đến đâu, người đó vẫn là một cây to lớn cho mọi người khác.
Thật là kỳ lạ
đôi khi chúng ta nghe rằng “con người là những con vật ích kỷ” và “nếu một người
mà không sống riêng cho họ, họ sẽ bị trời giết” đã trở thành những luật lệ
thông thường mà rất nhiều người sống theo.
Thật ra, cũng có
rất nhiều người sống ngược lại. Bạn nhìn chung quanh và tìm thấy rằng:
Nếu một người chỉ
sống một mình, càng giàu có, thì ông ta càng lo lắng và càng lộn xộn.
Một người sống
vì người khác, mặc dầu nghèo đói, ông ta vẫn có một đời sống vui vẻ và hạnh
phúc.
Vậy thì theo bạn
đời sống hạnh phúc là gì?
Vàng
thật và đồng thau
Ngày xửa
ngày xưa, bên Ai cập có một vị hiền triết tên là Zun-Nun. Ngày kia, một anh
thanh niên đến và hỏi ông:
-”Thưa ngài, tôi
không biết tại sao những người đáng kính như ngài luôn ăn mặc theo một cách giống
nhau và luôn luôn đơn giản như vậy. Chẳng lẽ không cần chưng diện một chút,
không phải để khoe khoang, nhưng còn vì mục đích khác nữa chứ, thưa ngài ?”
Nhà hiền triết
chỉ cười và cởi chiếc nhẫn ở tay ra, trao cho chàng trai và nói: “Này anh bạn
trẻ, ta sẽ trả lời câu hỏi của cậu, nhưng trước tiên câu phải giúp ta việc này
đã. Hãy cầm lấy chiếc nhẫn này và đi đến khu chợ bên kia đường, cậu hãy đổi nó
lấy một đồng vàng”.
Cầm chiếc nhẫn
đen đúa của Zun-Nun trên tay, chàng thanh niên tỏ vẻ nghi ngại: “Một đồng vàng?
Tôi không chắc là chiếc nhẫn có thể bán được với giá đó”.
- “Thử trước đã
chàng trai, ai biết được điều gì sẽ xảy ra ?”. Chàng trai trẻ phóng nhanh ra chợ.
Anh ta đem chiếc nhẫn vào hàng tơ lụa, rau cải, thịt cá và rất nhiều nơi khác.
Nhưng sự thực là không ai đồng ý trả cho anh ta với cái giá đó. Anh ta quay về
gặp Zun-Nun và nói: “Thưa ngài, không một ai đồng ý bỏ ra một số tiền nhiều hơn
một đồng bạc để mua chiếc nhẫn này cả”.
Với một nụ cười
nhẹ nhàng trên khuôn mặt trầm tĩnh, nhà hiền triết đáp lời: “Bây giờ anh hãy ra
tiệm vàng ở cuối đường, đưa chiếc nhẫn này cho ông chủ. Đừng yêu cầu giá bán,
chỉ lắng nghe xem ông ta trả giá bao nhiêu”.
Chàng thanh niên
đi đến tiệm vàng theo yêu cầu và sau đó quay về với vẻ mặt khác hẳn. Anh ta
nói: “Thưa ngài, những lái buôn ở chợ không biết giá trị của chiếc nhẫn này,
người chủ tiệm vàng đã đồng ý mua chiếc nhẫn này với giá một ngàn đồng vàng, và
giá trị thật của nó thậm chí còn lớn hơn nhiều”.
Zun-Nun mỉm cười
và ôn tồn nói:
“Đó là câu trả lời
cho câu hỏi của anh. Không thể đánh giá con người mà chỉ dựa vào cách ăn mặc
bên ngoài. Những người lái buôn ở chợ định giá theo kiểu đó. Nhưng những nhà
buôn vàng thì không như thế. Vàng và đá quý luôn tồn tại bên trong mỗi con người,
chỉ có thể được nhận ra và xác định giá trị nếu anh có thể nhìn thấu tâm hồn”.
Cần có con tim để
nhìn vào cả một quá trình dài lâu. Chúng ta không thể ngang nhiên đánh giá người
khác chỉ dựa vào những lời lẽ và cách cư xử trong một lúc nào đó. Nhiều lúc cái
ta nghĩ là vàng thì hóa ra là đồng thau, những thứ ta tưởng là đồng thau thì lại
chính là vàng thật.
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)

.jpg)
.jpg)
.jpg)
.jpg)
.jpg)
.jpg)
.jpg)

.jpg)
.jpg)

.jpg)
.jpg)
.jpg)
.jpg)
.jpg)

.jpg)

.jpg)
.jpg)

.jpg)
.jpg)
.jpg)
.jpg)
.jpg)
.jpg)
.jpg)
.jpg)

.jpg)
.jpg)